Đàm phán và thực thi các cam kết thương mại quốc tế là một thực tế với bề dày lịch sử ở nhiều nước. Cũng như vậy, kinh nghiệm mà họ tích lũy được trong các vấn đề có liên quan đến sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào quá trình này rất phong phú, đa dạng và rất đáng để Việt Nam tham khảo.

Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham), đại diện các doanh nghiệp thuộc Liên minh châu Âu, có hoạt động tham vấn chính sách rất tốt với các cơ quan của Chính phủ Việt Nam
Tùy thuộc vào sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp, độ mở trong quy trình xây dựng chính sách thương mại và truyền thống cũng như kỹ năng tham gia các vấn đề chính sách của các chủ thể dân sự ở mỗi nước mà hình thức thể hiện và hiệu quả của việc cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào quá trình đàm phán và thực thi các cam kết quốc tế cũng khác nhau ở mỗi nước.
Ở nhóm các nước phát triển với mức độ hội nhập sâu rộng (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Úc…), các cơ chế để doanh nghiệp tác động đến các quyết sách thương mại (quốc tế cũng như nội địa) đạt một mức độ chuyên nghiệp đáng kinh ngạc, có nơi chúng trở thành một “công nghệ” với năng suất và tần suất hoạt động mạnh mẽ (thậm chí ở mức bị lạm dụng). Không ít các trường hợp những cam kết quốc tế quan trọng xuất phát từ ý tưởng của chỉ một tập đoàn xuyên quốc gia lớn, với hệ thống những phương thức tác động khác nhau lên chính phủ và đoàn đàm phán liên quan. Sự tham gia của khối này và tác động của nó đến kết quả đàm phán thương mại quốc tế mạnh mẽ đến mức có một ví von khá phổ biến rằng, chính các doanh nghiệp chứ không phải các Chính phủ là người đàm phán trong WTO. Và trong nhiều trường hợp, rất khó có thể hiểu chi tiết các nguyên tắc thương mại đạt được từ các đàm phán nếu không hiểu về các lực lượng thực sự đứng sau và thúc đẩy việc đưa vấn đề đó lên bàn đàm phán.
Ở các nước đang và kém phát triển, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào các quá trình đàm phán và thực thi các cam kết thương mại quốc tế còn khá dè dặt và có hiệu quả tác động rất hạn chế. Thực trạng chung ở các nước này là giới doanh nghiệp thiếu sự chủ động cần thiết cho các đàm phán thương mại quốc tế nói chung, thiếu tự tin, khó đạt được đồng thuận trong nội bộ giữa họ với nhau, thiếu một tầm nhìn dài hạn và yếu trong kỹ năng truyền thông cũng như vận động. Từ phía Chính phủ, quan chức chính phủ có liên quan chưa có sự quan tâm thích đáng đến ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, với định kiến rằng doanh nghiệp thiếu hiểu biết, không có thông tin, không có khả năng hiểu và vì thế không thể đưa ra các gợi ý hay đề xuất đàm phán có giá trị. Kết quả là các lợi ích của giới kinh doanh các nước này không được dành một vị trí xứng đáng trong các đàm phán thương mại quốc tế, và không ít chính phủ chấp thuận những cam kết thương mại không có lợi cho một ngành sản xuất nội địa nào cụ thể và cũng không mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói chung.
Quá trình toàn cầu hóa càng sâu rộng, tự do hóa thương mại càng được đề cao thì xu hướng thừa nhận sự tham gia của công chúng nói chung và của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng vào quá trình đàm phán, thực thi các cam kết càng mạnh mẽ. Nhiều mô hình phối hợp công - tư trên thế giới đã được trải nghiệm và mang lại những hiệu quả nhất định.
Hoa Kỳ: Mối quan hệ có đi có lại
Ở Hoa Kỳ, để các chính sách thương mại quốc tế thể hiện tốt hơn các lợi ích của mình, các doanh nghiệp đã vận động thành công cho việc thành lập Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) năm 1962, một đơn vị gần hơn với giới doanh nghiệp thay thế cho Bộ Ngoại giao trong các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế (mà đặc biệt là trong các đàm phán cam kết quốc tế và xử lý các tranh chấp phát sinh giữa Hoa Kỳ và các nước khác trong quá trình thực hiện các cam kết này).
Đặc trưng của mô hình phối hợp giữa cộng đồng doanh nghiệp và USTR là ở chỗ doanh nghiệp không trực tiếp tham gia, không phải là một thành phần của USTR nhưng lại là nguồn cung cấp thông tin đầu tiên (sáng kiến về một vấn đề đàm phán) và chủ yếu (lập luận và vận động để có được sự hỗ trợ với sáng kiến) cho hầu hết các hành động của USTR. Việc cung cấp và tiếp nhận thông tin này có những giai đoạn là chính thức (được ghi nhận vào quy trình cụ thể), nhưng phần nhiều là do phía doanh nghiệp chủ động thực hiện.
Quan hệ giữa USTR và doanh nghiệp ở đây là quan hệ có đi có lại. Doanh nghiệp nhờ vào tiếng nói của USTR để đảm bảo các lợi ích của mình trong các đàm phán quốc tế cũng như trong các định hướng chính sách nội địa có liên quan đến thương mại quốc tế. USTR dựa vào ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp để thu hút sự hậu thuẫn và tăng cường vai trò của mình trong bộ máy chính quyền và giành sự ủng hộ của nghị viện.
Bên cạnh USTR, nhiều hình thức phối hợp khác giữa Chính phủ và giới doanh nghiệp trong việc hình thành các chính sách thương mại quốc tế và đàm phán các cam kết cũng được duy trì theo hướng có lợi cho cả hai bên. Chính phủ Hoa Kỳ thiết lập một Chương trình Tham vấn Doanh nghiệp (Industry Consultations Program) dưới sự điều hành chung của Bộ Thương mại Hoa Kỳ và USTR, với 17 Ủy ban Tư vấn về các lĩnh vực riêng (Industry Sector Advisory Committees). Lãnh đạo của các Ủy ban này là Giám đốc điều hành đại diện các ngành và các nhóm lợi ích (US Council on International Business, National Trade Foreign Council, American Chamber of Commerce…). Ngoài ra, các lãnh đạo doanh nghiệp lớn còn làm việc sát cánh với các quan chức thương mại Hoa Kỳ với tư cách là nhà tư vấn cho Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ (USITA).
Liên minh Châu Âu: Sự phối hợp âm thầm
Ở Châu Âu, các doanh nghiệp có thể tác động đến các cơ quan phụ trách về thương mại theo hai con đường khác nhau. Hoặc là thông qua các cơ quan thương mại của quốc gia mình, hoặc là thông qua Ủy ban châu Âu (cơ quan phụ trách về thương mại quốc tế của Cộng đồng châu Âu). Phương thức tham gia chủ yếu là vận động hành lang đối với các cơ quan liên quan, hậu thuẫn trực tiếp cho các cơ quan này trong những vấn đề/vụ việc cụ thể (cung cấp thông tin, lập luận, theo dõi, hỗ trợ phản biện…); hoặc đơn giản là cung cấp thông tin qua các kênh khác nhau (website tiếp nhận thông tin từ cộng đồng CONECCS, các phiếu lấy ý kiến/thông tin…). Mặc dù về hình thức, sự phối hợp giữa các doanh nghiệp và cơ quan đàm phán thương mại ở Cộng đồng châu Âu không khác nhiều so với Hoa Kỳ, cách thức mà các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động này diễn ra âm thầm, thường theo cách phi chính thức và ít ầm ĩ hơn nhưng rất mạnh mẽ và thường xuyên. Theo thống kê thì hầu hết các tập đoàn và liên kết kinh tế mạnh ở châu Âu và thế giới đều có đại diện ngay tại Bruxelles (đầu não chính sách của EU), số lượng các nhà vận động chính sách chuyên nghiệp (lobbyist) ở Bruxelles năm 1998 đã là khoảng 13.000 người, tương đương với số nhân viên của Ủy ban châu Âu. Và những nhóm này đã để lại dấu ấn lớn trong chính sách thương mại của EU.
Chính yếu tố “âm thầm”, thiếu minh bạch này trong các hoạt động vận động hành lang cho các cam kết thương mại ở Cộng đồng Châu Âu đang khiến nhiều lợi ích bị đẩy lên quá cao, trong khi những lợi ích khác lại bị bóp méo. Nhiều ý kiến đang kêu gọi “minh bạch hóa” hoạt động này ở Cộng đồng Châu Âu.
Mexico: Một phần của quá trình đàm phán
Ở Mexico, trong khuôn khổ đàm phán NAFTA, để tác động có hiệu quả vào quá trình đàm phán, các doanh nghiệp của nước này đã thiết lập một diễn đàn duy nhất - diễn đàn COECE.
COECE đóng vai trò như một đầu mối để các doanh nghiệp, các nhóm lợi ích trao đổi, thảo luận với các nhà đàm phán, từ đó bảo vệ các lợi ích của mình. COECE có những buổi làm việc nội bộ định kỳ, hình thành các “nhóm làm việc” về những vấn đề cụ thể và thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với các nhà đàm phán. COECE cũng được phép trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán.
Ấn Độ: Cộng đồng hỗ trợ nhà chức trách
Là một nước đang phát triển nhưng tham gia khá sớm và sâu vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ấn Độ có thể xem như một mô hình tốt về sự kết hợp công - tư trong đàm phán chính sách thương mại quốc tế cho các nước đang phát triển.
Bộ Thương mại Ấn Độ, cơ quan hoạch định chính sách và đàm phán thương mại quốc tế của Ấn Độ, đã thực hiện chức năng của mình với sự hỗ trợ tích cực từ các đơn vị tư vấn tham gia Hội đồng Thương mại trực thuộc Bộ. Mỗi đơn vị này sẽ tư vấn cho Chính phủ Ấn Độ thông qua hoạt động của Hội đồng Thương mại ở những lĩnh vực khác nhau. Viện Ngoại thương Ấn Độ nghiên cứu, đào tạo, cung cấp thông tin đầu vào về thương mại quốc tế. Các Ủy ban về hàng hóa tư vấn về các chính sách đối với chè, cà phê, cao su, gia vị và thuốc lá. Các hiệp hội như Liên hiệp các ngành sản xuất Ấn Độ, Liên đoàn các tổ chức xuất khẩu Ấn Độ, Liên đoàn các Phòng Thương mại Ấn, các viện nghiên cứu… đóng vai trò quan trọng vào việc đưa ra các đề xuất chính sách thương mại.
|
Hạn chế của các hiệp hội doanh nghiệp ở nước đang phát triển
Sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp, với tư cách là đại diện cộng đồng doanh nghiệp, vào quá trình đàm phán, thực thi các cam kết quốc tế ở các nước đang phát triển còn nhiều hạn chế vì nhiều lý do, trong đó nổi bật là:
* Lãnh đạo và nhân viên hiệp hội thiếu kiến thức về đàm phán thương mại quốc tế và chính sách thương mại chung;
* Lợi ích giữa các thành viên lớn và thành viên nhỏ, giữa thành viên tư nhân và thành viên thuộc sở hữu Nhà nước, giữa thành viên có vốn đầu tư nước ngoài và các thành viên trong nước của hiệp hội không phải lúc nào cũng đồng nhất, thậm chí có những trường hợp mâu thuẫn nhau (đặc biệt liên quan đến vấn đề dỡ bỏ độc quyền, giảm bảo hộ hay mở cửa thị trường);
* Thiếu những định hướng, kế hoạch phát triển ngành chắc chắn và đáng tin cậy khiến cho việc xác định mục tiêu lợi ích đối với ngành trong lâu dài của hiệp hội là rất khó khăn.
|
Theo DĐDN